Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non

doc 31 trang nhatle 19/08/2025 1010
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_chi_dao_nang_cao_chat.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non

  1. 1 MỤC LỤC NỘI DUNG Trang A. PHẦN MỞ ĐẦU 2 I. Bối cảnh của đề tài 2 II. Lý do chọn đề tài 3 III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4 IV. Mục đích nghiên cứu 4 V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 4 B. PHẦN NỘI DUNG 4 I. Cơ sở lý luận 4-5 II. Thực trạng của vấn đề 5-6 1. Thuận lợi 2. Khó khăn 6 3. Khảo sát tình hình thực trạng học sinh trước khi thực hiện đề tài 6-7 III. Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi 7 trường cho trẻ trong trường Mầm non. 1. Nghiên cứu tài liệu 7 2. Tích hợp các nội dung hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường theo 7-9 chủ đề 3. Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường qua các hoạt động trong 9-12 ngày 4. Truyền tải kiến thức qua câu chuyện, thơ, câu đố, trò chơi; Sử dụng 12-15 minh họa trực quan 5. Hình thành cho trẻ tinh thần tập thể. 15-16 6. Tổ chức hoạt động dự án về bảo vệ môi trường. 19-21 7. Phối hợp cùng các ban nghành đoàn thể địa phương, với phụ huynh 21-23 học sinh để tổ chức tốt về việc bảo vệ môi trường. IV. Hiệu quả mang lại của sáng kiến 24-27 V. Khả năng ứng dụng và triển khai 27 VI. Ý nghĩa của sáng kiến 27-28 C. PHẦN KẾT LUẬN 28 I. Những bài học kinh nghiệm 28-30 II. Những kiến nghị, đề xuất 30 - Phụ lục 31 - Tài liệu tham khảo 31
  2. 2 A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Bối cảnh của đề tài Như chúng ta đã biết, trong những năm gần đây tình hình môi trường đang có biến động xấu làm ảnh hưởng đến khí hậu, thời tiết trên toàn thế giới. Và được xem như là lời cảnh báo cho tương lai đối với thế giới sinh vật trong đó có con người chúng ta. Nếu như chúng ta không có những hành động nhằm bảo vệ môi trường kịp thời. Xét riêng về tình hình môi trường của nước ta hiện nay, là một nước đang trong giai đoạn phát triển nhanh về các ngành công nghiệp trong thời gian qua. Thế nhưng tài nguyên đất, nguồn nước bị ô nhiễm do ảnh hưởng chất độc da cam của chiến tranh để lại, do con người sử dụng các loại phân, thuốc hóa học, do khô hạn, ngập úng kéo dài... Một số nơi tài nguyên đất bị ô nhiễm do chất thải công nghiệp mà các công ty xí nghiệp thải ra chưa qua xử lí, đáng báo động nhất là rác thải của y tế nơi được xem là môi trường sống của các loại vi khuẩn gây bệnh. Những năm qua, có hàng nghìn, vạn người chết vì các loại dịch bệnh do tài nguyên đất, nguồn nước bị ô nhiễm và môi trường mất vệ sinh. Ở các địa phương, ý thức bảo vệ môi trường của mọi người chưa cao, rác thải trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình, các trường học không được phân loại và xử lý đúng lúc, đúng nơi quy định. Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng trên là do thiếu hiểu biết, ý thức của mỗi người. Chính vì lẽ đó mà ngành Giáo dục chúng ta đã đưa nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các bộ môn của các cấp học nói chung và các hoạt động hằng ngày của trẻ mầm non nói riêng. II. Lý do chọn đề tài Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mất thiết với nhau, xung quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế xã hội, sự tồn tại phát triển sinh vật và tự nhiên. Môi trường c ó tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người cả về thể chất lẫn tinh thần, nhưng cũng chính con người trong quá trình tồn tại và phát triển đã khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây nên sự mất cân bằng sinh thái, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Chính vì thế, hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề cấp bách, chiến lược mà cần có sự chung tay góp sức của mỗi cá nhân và toàn xã hội.
  3. 3 Các nhà khoa học đều cho rằng để toàn xã hội thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ môi trường thì cần được quan tâm đúng mức ngay từ lứa tuổi mầm non vì lứa tuổi này dễ dàng hình thành nề nếp thói quen, mang lại hiệu quả cao, tạo cơ sở cho việc hình thành nhân cách con người. Do đó việc đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động giáo dục hằng ngày của trẻ sẽ giúp trẻ có thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường xung quanh, biết yêu quý và trân trọng cuộc sống, biết sống thân thiện với môi trường ngay từ nhỏ. Tôi nhận thấy rằng muốn trẻ được khỏe mạnh, không bị mắc các bệnh lây truyền, cơ thể phát triển cân đối hài hòa, trẻ được sống trong một môi trường “Xanh - sạch - đẹp – an toàn - thân thiện”, điều trước tiên phải giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ. Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ là một việc làm hết sức cần thiết, góp phần quan trọng vào mục tiêu chung của giáo dục. Thông qua các hoạt động giáo dục giúp trẻ hình thành những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chung. Từ đó trẻ có kỹ năng, thói quen, hành vi ứng xử phù hợp để giữ gìn và bảo vệ môi trường trong sạch, không bị ô nhiễm, biết sống hòa nhập với môi trường đảm bảo sự phát triển lành mạnh về cơ thể và trí tuệ. Giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách, tích lũy thêm những kỹ năng, kinh nghiệm sống làm nền tảng cho sự nghiệp giáo dục sau này. Qua đó trẻ học được những cái hay, cái đẹp, biết yêu lối sống lành mạnh, biết yêu quý và trân trọng những giá trị của môi trường trong cuộc sống. Từ thực tế trên tôi đã mạnh dạn tìm tòi và nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non”, góp phần hình thành những thói quen, kỹ năng, hành vi tốt trong việc bảo vệ môi trường cho trẻ. III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu - Các tài liệu liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài - Giáo viên, trẻ và phụ huynh trong trường Mầm non nơi tôi đang công tác IV. Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng việc bảo vệ môi trường của trẻ trong trường để đưa ra một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ có hiệu quả.
  4. 4 V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu - Khi đưa ra một số giải pháp phù hợp trong việc chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ nhằm hình thành cho trẻ thói quen, kỹ năng tốt góp phần giáo dục nhân cách trẻ một cách toàn diện. Giúp cho giáo viên có những biện pháp hữu hiệu trong việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ . - Ngoài việc trẻ được khám phá trải nghiệm, mạnh dạn tự tin còn giúp trẻ biết bảo vệ môi trường, biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường, lớp và nơi công cộng. - Luôn tạo môi trường xanh- sạch- đẹp- an toàn- thân thiện trong trường mầm non. B. PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận Bảo vệ môi trường là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, vì sự phát triển bền vững toàn cầu. Con người là một bộ phận của thiên nhiên, do đó con người sẽ không sống nổi nếu thiên nhiên không được bảo vệ. Nói cách khác bảo vệ thiên nhiên chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta... Những năm gần đây, những dấu hiệu cho thấy suy thoái môi trường ngày một rõ ràng hơn do nhiều nguyên nhân chủ yếu là do tác động của con người. Phải gánh chịu hậu quả thiên tai gây ra, con người bắt đầu ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường sống. Chính vì thế, con người quan tâm hơn đến công tác bảo vệ môi trường, nhất là môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đặc biệt, bộ giáo dục và đào tạo đã đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục nhằm tác động lên thái độ, hành vi của học sinh bằng chương trình tích hợp thông qua các hoạt động học tập, vui chơi của tất cả cấp học trong đó có cấp học mầm non Trẻ mầm non chính là chủ nhân tương lai của đất nước, những chủ nhân đó cần biết, hiểu đầy đủ về quê hương đất nước mình, bảo vệ và xây dựng cuộc sống tốt đẹp, điều này gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng. Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non giúp trẻ có những khái niệm ban đầu về môi trường sống, từ đó biết cách sống tích cực; tạo ra thái độ, hành vi đúng đối với môi trường xung quanh nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của cơ thể và trí tuệ.
  5. 5 Thông qua hoạt động lồng ghép bảo vệ môi trường sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp, phát triển trí thông minh, vốn sống, tình cảm thẩm mỹ, đạo đức. Vì vậy, người lớn tổ chức để hướng dẫn trẻ tiếp thu những biểu tượng đúng đắn về bảo vệ môi trường. Nhờ có giáo dục ý thức bảo vệ môi trường mới trở thành những phương tiện để hình thành nhân cách toàn diện cho trẻ. II. Thực trạng của vấn đề Trước thực trạng về sự ô nhiễm môi trường ở Việt Nam nói chung, ở địa phương tôi nói riêng, ý thức bảo vệ môi trường của mọi người chưa cao, rác thải trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình, ở các trường mầm non không được phân loại và xử lý đúng lúc, đúng nơi quy định, trẻ còn vứt rác lung tung, bôi bẩn lên tường lớp, tiểu tiện không đúng chổ, trẻ chưa có thói quen giữ gìn vệ sinh cá nhân: nhặt rác, quét rác làm mất vệ sinh và gây ô nhiễm môi trường. Ngày nay việc giữ gìn vệ sinh môi trường học đang trong tình trạng báo động. Môi trường học đường lâu nay đang có sự “ô nhiễm” mà đối tượng quan trọng nhất không ai khác chính là các cháu học sinh và các bậc phụ huynh. Thế nhưng, nhiều bậc phụ huynh lại làm ngơ, quên đi và thậm chí là không hay biết. Chính các bậc phụ huynh cũng chưa thể hiện ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh nơi trường lớp mà con cháu mình đang học tập. Nhiều phụ huynh còn sẵn sàng vứt giấy, vỏ của các bao bì đựng quà vặt, vỏ bim bim lên sân, cổng trường. Bện cạnh đó, trên thực tế giáo viên nhận thức chưa đầy đủ về việc giáo dục bảo môi trường vào các hoạt động trong ngày của trẻ. Giáo viên đã lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ nhưng còn chưa linh hoạt, chưa tạo nhiều cơ hội để trẻ thực hành trải nghiệm, rèn luyện thói quen. Vì vậy việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. 1. Thuận lợi: Trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Phòng giáo dục và đào tạo về công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đã tổ chức nhiều đợt chuyên đề nhằm cung cấp những nội dung, những kiến thức mới, đồng thời cũng cố các kiến thức, nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, tạo điều kiện cho giáo viên được tiếp cận kịp thời các nội dung cần thiết về chuyên môn nghiệp vụ.
  6. 6 Lớp học được phân theo độ tuổi nên việc rèn luyện nề nếp, thói quen, kỹ năng tương đối dễ. Nhà trường bố trí 2 giáo viên/ lớp nên thuận tiện trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ. Giáo viên đã được học tập đầy đủ nội dung chuyên đề trong năm học, đặc biệt là chuyên đề về tổ chức hoạt động “Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non” do Vụ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, trường tổ chức. 2. Khó khăn: Phương tiện phục vụ cho việc giáo dục bảo vệ môi trường chưa được đầu tư nhiều. Chưa nhiều sách báo có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường để giáo viên tìm hiểu. Trẻ chưa phân biệt hành vi đúng sai để bảo vệ môi trường; chưa có ý thức bảo vệ môi trường, nhiều trẻ còn vứt vỏ hộp sữa, vỏ bánh kẹo....ở sân trường, hay nhiều lúc trẻ chạy nhảy chưa biết nhặt rác dưới chân mình để bỏ vào thùng; dẫm lên vườn hoa của trường, còn bẻ cành cây, hái hoa, bứt lá trong vườn trường, đi vệ sinh, rửa tay chưa biết tiết kiệm nước, vẽ bậy lên bàn ghế, lên tường. . . . Một số phụ huynh chưa thực sự làm gương tốt cho trẻ trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, chưa có ý thức nhắc nhở trẻ giữ gìn vệ sinh trường lớp. Giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động giáo dục một cách linh hoạt. Một số người dân gần trường chưa có ý thức giữ gìn môi trường còn xả rác thải và các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách bừa bãi. Chính những việc làm đó ảnh hưởng đến hành vi, thói quen của trẻ. 3. Khảo sát tình hình thực trạng học sinh trước khi thực hiện đề tài: Tổng Tổng số trẻ đạt/ chưa đạt TT Nội dung khảo sát số trẻ Tỷ lệ Chưa Tỷ lệ Đạt (%) đạt (%) Không vứt rác bừa bãi, biết bỏ 1 276 149 54 127 46 rác vào thùng Biết giữ gìn vệ sinh trường 2 276 169 61,2 107 38,8 lớp Biết cất đồ chơi đúng nơi quy 3 276 151 54,7 125 45,3 định
  7. 7 4 Biết chăm sóc và bảo vệ cây 276 155 56,2 121 43,8 Biết giữ gìn vệ sinh trong ăn 5 276 141 51,1 135 48,9 uống, sử dụng tiết kiệm Phân biệt được hành vi đúng 6 276 137 49,6 139 50,4 sai để bảo vệ môi trường Luôn có ý thức bảo vệ môi trường. Hứng thú làm đồ 7 dùng, đồ chơi, từ các 276 117 42,4 159 57,6 nguyên vật liệu phế thải an toàn. III. Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường Mầm non. 1. Nghiên cứu tài liệu Hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non. Tôi đã tìm đọc các tài liệu có liên quan đến sự phát triển tâm lý trẻ mầm non; chương trình chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ các độ tuổi. Tham khảo các cuốn tạp chí giáo dục; Kết nối mạng Internet để tìm hiểu và sưu tầm các hình ảnh, video, bài viết về giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ. Trao đổi với đồng nghiệp các vấn đề liên quan đến giáo dục bảo vệ môi trường như: Tôi nghiên cứu vấn đề về mục tiêu xây dựng và giáo dục bảo vệ môi trường đối với trẻ mầm non; Vai trò của giáo dục bảo vệ môi trường đối với sự phát triển của trẻ thơ; Nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non; Xây dựng môi trường giáo dục đáp ứng với nhu cầu vui chơi học tập của trẻ mầm non; Lên kế hoạch cho trẻ hoạt động chăm sóc, giữ gìn và bảo vệ môi trường trong và ngoài lớp xanh - sạch - đẹp - an toàn - thân thiện; Cách thức đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ lồng ghép vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong ngày; Cách làm và sử dụng một số đồ dùng đồ chơi, các thí nghiệm, dự án cho trẻ.... Ngoài ra, tham gia đầy đủ các lớp tập huấn do Phòng, Sở, Vụ giáo dục tổ chức. Từ đó tìm ra các biện pháp áp dụng vào việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ.
  8. 8 \ Buổi tập huấn trực tuyến do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Đồng thời chỉ đạo giáo viên, muốn truyền thụ kiến thức cho trẻ thì yêu cầu giáo viên cần nắm vững phương pháp nghiên cứu chuyên đề, tài liệu chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường, đúc rút kinh nghiệm, vận dụng sáng tạo phù hợp với tình hình thực tế, lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp với đặc điểm nhận thức và khả năng của trẻ. Việc này đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, linh hoạt, sáng tạo, để tạo cho trẻ tâm thế thoải mái, tự nhiên để phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo; Tham gia dự giờ học hỏi và bổ sung ý kiến cho đồng nghiệp. 2. Tích hợp các nội dung hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường theo chủ đề Các nội dung về giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ được triển khai cho giáo viên lồng ghép thông qua các tiết học, qua trao đổi và quan sát thực tiển thấy trẻ học hứng thú và có hiệu quả cao. Tôi chỉ đạo giáo viên căn cứ vào mục đích yêu cầu và nội dung của chủ đề, lựa chọn nội dung “ Giáo dục bảo vệ môi trường” tích hợp một cách hợp lý. Ví dụ: Với chủ đề “Trường mầm non”; Ngoài việc cung cấp cho trẻ kiến thức về chủ đề, cô giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh bảo vệ trường lớp sạch sẽ, biết giúp cô lau chùi, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi, không bứt lá, hái hoa, bẻ cành xung quanh trường lớp, biết chăm sóc bồn hoa cây cảnh của trường, của lớp, biết bỏ rác đúng nơi quy định.
  9. 9 Hình ảnh: Trẻ chăm sóc cây Hình ảnh: Trẻ bỏ rác vào thùng đựng rác
  10. 10 Tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Chọn những hành vi đúng, sai”. Cô cho trẻ xem tranh vẽ về việc giữ gìn bảo vệ môi trường của một bạn nhỏ như: bé vứt rác vào thùng, vứt rác bừa bãi, bé quét nhà, dẫm lên cỏ, bé đu cành cây, bé ngồi lên bàn, bé tranh dành đồ chơi Sau đó chia trẻ làm hai đội, mỗi đội có một bức tranh yêu cầu trẻ phải bật qua các vòng và yêu cầu đội khoanh tròn các hành vi đúng và một đội khoanh tròn các hành vi sai. Thời gian sau một bản nhạc đội nào khoanh tròn được đúng theo yêu cầu là chiến thắng. Chủ đề “Bản thân”: Giáo dục trẻ biết ích lợi vệ sinh môi trường đối với sức khỏe con người. Trẻ có hành vi và thói quen tốt trong ăn uống: mời cô, mời bạn trước khi ăn... Nhận biết ký hiệu thông thường: nhà vệ sinh nam, nữ, thùng đựng rác... và nhận biết một số vật dụng, nơi nguy hiểm đối với bản thân: dao, kéo, ổ cắm điện, ao, hồ... Giờ khám phá khoa học: “Năm giác quan của bé”. Cho trẻ khám phá thực hành trải nghiệm các giác quan và qua đó giáo dục trẻ biết chăm sóc giữ gìn đôi mắt (không dụi tay bẩn lên mắt, rửa mặt hàng ngày bằng nước và khăn sạch). Giáo dục trẻ biết giúp đỡ những bạn bị khiếm thị, bị cận... không cho tay bẩn vào tai, không dùng que ngoáy tai của mình và của bạn, khi tắm gội chú ý không để nước vào tai....Nhận biết các dấu hiệu dịch bệnh Covid – 19 và cách phòng tránh: Không tụ tập nơi đông người, đeo khẩu trang, giữ khoảng cách, sát khuẩn thường xuyên Chủ đề “Gia đình bé yêu ”: Trẻ thấy được sự thay đổi của môi trường xung quanh nhà của trẻ, nhận biết được môi trường sạch, môi trường bẩn trong gia đình. Biết quý trọng giữ gìn đồ dùng trong gia đình, cất đồ dùng, đồ chơi đúng chổ, bỏ rác đúng nơi quy định, không khạc dỗ bừa bãi có ý thức về những điều nên làm như: khóa vòi nước khi không sử dụng, tắt điện khi ra khỏi phòng Thông qua hoạt động khám phá khoa học “Đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia đình bé”: Trẻ biết một số đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia đình như: bóng điện để thắp sáng, quạt, ti vi, đài, tủ lạnh, ấm điện Cô giáo dục trẻ những kỹ năng sử dụng đồ dùng bằng điện đúng cách vừa tiết kiệm điện lại bảo quản đồ dùng, tránh được những vấn đề gây cháy nổ hay nguy hiểm khác. Giáo dục trẻ biết tắt bóng đèn, ti vi, quạt điện khi không cần thiết sử dụng.
  11. 11 Chủ đề “Thế giới thực vật”: Giáo dục trẻ biết quá trình phát triển của cây, ích lợi của cây xanh với môi trường sống và biết tác hại của việc chặt phá rừng bừa bãi làm cho môi trường ô nhiễm, thiên tai xẩy ra nhiều và nghiêm trọng ảnh hưởng tới đời sống con người. Ví dụ: Đề tài: “Cây xanh quanh bé”: Cô giáo chuẩn bị đồ dùng bằng vỏ hộp sữa chua hay vỏ thùng mì tôm cho trẻ làm thí nghiệm “ trồng cây” để được tự tay deo trồng và mục đích là trẻ được thực hành, tìm hiểu và hàng ngày quan sát chăm sóc để trẻ biết được thứ tự phát triển của cây. Sưu tầm bài hát, bài thơ, câu đố, hò vè về các loại cây để trẻ biết được ích lợi của cây đối với con người từ độ trẻ có thái độ yêu quý, biết chăm sóc bảo vệ cây xanh ( không bứt lá, bẻ cành, không dẫn lên cây cỏ, hoa ) Với chủ đề “Thế giới động vật”; Ngoài việc cung cấp cho trẻ kiến thức về đặc điểm, ích lợi cũng như tác hại của một số con vật với đời sống con người, cô còn giáo dục trẻ yêu quý các con vật nuôi, mong muốn và thực hiện những hành động tốt để chăm sóc bảo vệ những con vật gần gũi. Chủ đề “Giao thông”; Cô giúp trẻ hiểu được một số đồ dùng nguy hiểm, một số quy định đơn giản để đảm bảo an toàn khi tham gia gia thông. Các hành vi văn minh khi tham gia giao thông. Trẻ biết được phương tiện giao thông tải ra khói bụi: ô tô, xe máy, tàu hỏa thải khói vào không khí. Cho trẻ xem những video hình ảnh của các phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường. Người đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, ngồi trên xe ô tô thò đầu qua cửa sổ, người ngồi sau đứng lên xe đạp, xe máy, đi xe không đeo kính, khẩu trang, người đi bộ đi trên vĩa hè, đi đúng luật giao thông, trẻ em đá bóng dưới lòng đường, hình ảnh người đi xe máy đeo khẩu trang, đeo kính đội mũ bảo hiểm Sau đó cho trẻ gạch nối những hành động đúng- sai khi tham gia giao thông, tô màu tranh những phương tiện giao thông bảo vệ môi trường, lựa chọn những lô tô phương tiện giao thông không gây ô nhiễm môi trường. Trẻ biết nhận ra cái đẹp trong việc giữ gìn các đồ dùng, phương tiện đi lại của gia đình sạch sẽ, ngọn gàng, ngăn nắp. Chủ đề “Một số hiện tượng tự nhiên”: Giúp trẻ biết về các hiện tượng tự nhiên: gió, mưa, sấm chớp, lũ lụt qua đó trẻ biết phân biệt đặc điểm của nước, nguồn nước sạch, nước bẩn, ích lợi của nước sạch, biết tiết kiệm nước sạch, tránh xa những nguồn nước bẩn gây ô nhiễm, bệnh tật cho con người, tác hại do một số hiện tượng tự nhiên
  12. 12 mang lại việc lồng ghép “ giáo dục bảo vệ môi trường” cho trẻ thông qua các chủ đề khác rất phong phú, đa dạng. Chúng ta cần lồng ghép tích hợp để giúp trẻ có những kiến thức hiểu biết về chăm sóc cho bản thân, về môi trường xung quanh gần gũi với bản thân, biết sử dụng và giũ gìn đồ dùng luôn sạch sẽ gọn gàng, ngăn nắp biết sống vì môi trường, bảo vệ và giữ gìn môi trường, có thái độ đúng với môi trường một cách tích cực và hiệu quả. 3. Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường qua các hoạt động trong ngày. Qua giờ đón trẻ tôi nhắc nhở trẻ cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định, không vứt rác bừa bãi. Từ đó giáo dục trẻ tính gọn gàng, ngăn nắp. Hoạt động học: Giới thiệu các khu vực trong trường, các khu vệ sinh, nơi bỏ rác, vứt rác Dạy trẻ biết tiết kiệm trong tiêu dùng tại trường, lớp. Một trong những việc làm có ý nghĩa để giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non đó là giáo dục trẻ biết tiết kiệm trong tiêu dùng. Trẻ biết tiết kiệm nước như không vặn vòi nước để nghịch, rửa tay các con phải xoáy nhỏ vòi nước không để nước vung vãi ra ngoài và khi rửa xong các con nhớ khoá vòi lại, hay sau khi không xem ti vi biết bấm nút tắt, khi ra khỏi phòng cần tắt điện.... Chơi ngoài trời: Xem tranh ảnh đoạn băng tình huống về việc giữ gìn vệ sinh cảnh quan của trường, nhặt rác trong sân trường, và nhặt lá cây rụng bỏ vào thùng rác Cho trẻ làm thí nghiệm về sự phân hủy của lá cây, thí nghiệm về không khí bị ô nhiễm từ khói Khi chơi các góc: Góc thiên nhiên: Chăm sóc cây cảnh, tưới nước cho cây, nhặt lá vàng, lá rụng. Góc tạo hình: Sử dụng các loại lá cây trẻ nhặt được kết thành những đồ chơi dân gian mà trẻ yêu thích ( con trâu, chong chóng ) Thông qua các trò chơi phân vai: Trẻ đóng vai và thể hiện các công việc của người làm công tác bảo vệ môi trường như: trồng cây, chăm sóc cây, thu gom rác, xử lý các chất thải. Trong các trò chơi “Bé tập làm nội trợ” giáo viên luôn chú ý dạy trẻ có ý thức tiết kiệm nước và các nguyên liệu chế biến món ăn, thu gom đồ dùng gọn gàng sau khi làm Thông qua các trò chơi học tập: Trẻ tìm hiểu các hiện tượng trong môi trường, trẻ học cách so sánh, phân loại các hành vi tốt, xấu đối với môi trường, phân biện môi
  13. 13 trường sạch, môi trường bẩn và tìm ra nguyên nhân; trẻ biết giải các câu đố, kể lại các câu chuyện về bảo vệ môi trường Thông qua các trò chơi vận động: Trẻ mô tả các hành vi bảo vệ môi trường: Động tác cuốc đất, trồng cây, tưới nước, bắt sâu ; hoặc làm hại môi trường: Chặt cây, dẫm lên thảm cỏ, đốt rừng, săn bắt chim, thú Thông qua các trò chơi đóng kịch: Trẻ thể hiện được nội dung các câu chuyện bảo vệ môi trường, trẻ biết thể hiện các hành vi có lợi, hành vi có hại cho môi trường. Tổ chức giờ ăn: Khuyến khích trẻ chuẩn bị phòng ăn cùng cô, tạo không khí ăn vui vẻ; hướng dẫn trẻ vệ sinh trước khi ăn; giới thiệu các chất dinh dưỡng, nhắc nhở trẻ khi ăn không được nói chuyện, khi ăn không làm rơi vải thức ăn, muốn hắt hơi phải biết che miệng Tổ chức giờ ngủ:Trước khi ngủ giáo viên cần chuẩn bị phòng ngủ thông thoáng, sạch sẽ, ánh sáng và nhiệt độ phù hợp; nhắc trẻ đi vệ sinh, dày dép để vào đúng nơi quy định, tạo cho trẻ tâm lí thoải mái. Sau khi ngủ dậy xếp chăn, gối gọn gàng Vệ sinh cá nhân trẻ: Giáo viên nhắc nhở, làm mẫu, hướng dẫn thường xuyên cho trẻ. Rửa mặt: Lấy đúng khăn có kĩ hiệu của mình, lau xong để khăn mặt gọn gàng vào đùng nơi quy định; Giữ gìn quần áo, sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng. Uống nước: lấy cốc của mình và rót nước đủ uống, không lấy quá nhiều nếu thừa đổ đi sẽ lãng phí; sau khi uống xong sữa (quà chiều) thì bỏ cốc vào xô đựng cốc bẩn. Đi vệ sinh đúng nơi quy định, vứt rác vào thùng rác, phân loại rác. Rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng trước và sau khi ăn, sau khi hoạt động ngoài trời, sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn Lau khô tay bằng khăn sạch sau khi rửa. Cất đồ dùng vệ sinh ngăn nắp, gọn gàng Hoạt động chiều: Cô và trẻ cùng dọn dẹp lớp, lau chùi đồ chơi. Cho trẻ xem băng hình, hình ảnh và đưa ra nhận xét một số hành vi đúng sai của con người đối với môi trường. Lôi cuốn trẻ bằng thực hành trải nghiệm. Giáo viên cùng trẻ tham gia vào các cuộc trò chuyện bằng những câu hỏi ngắn về kinh nghiệm của trẻ, tạo hứng thú bước đầu cho trẻ đối với những nội dung đặt ra. Ví dụ: Tại sao phải trồng cây? Trồng cây trong lớp (sân trường) mình để làm gì? Muốn cây xanh tươi tốt chúng ta làm gì?... Với những câu hỏi đó, cô cho trẻ trao đổi với nhau những gì trẻ biết, động viên trẻ thể hiện những kinh nghiệm của bản thân.
  14. 14 Có thể buổi trò chuyện sẽ được tiếp diễn vào ngày hôm sau để tiếp tục giải quyết những câu hỏi được đặt ra, trẻ có thể nói thêm, kể thêm về các đối tượng. Kích thích nhiều trẻ hỏi về những chi tiết nào mà trẻ thấy hứng thú. Luôn tạo sự hưng phấn để trẻ tìm hiểu sâu về các đối tượng của môi trường thiên nhiên. Đối với con vật nuôi, cây xanh cho trẻ tìm hiểu về đặc điểm, giá trị, vẻ đẹp của con vật, cây, hoa, lá... (tùy theo chủ đề). Cô cho trẻ xem về quá trình phát triển, thay đổi của đối tượng: Hạt - nảy mầm - cây có chồi - lá non - lá xanh thẫm, to hơn, sau đó trẻ được xem cả quá trình lao động chăm sóc cây trồng. Cô cho trẻ quan sát và tiến hành thí nghiệm với nhiều nội dung khác nhau: Hiện tượng nước bốc hơi; hình dạng khác nhau của nước; các lớp chất lỏng; nước có màu gì? chất gì hòa tan trong nước? nước biến đi đâu?... Tùy theo điều kiện thì giáo viên có thể lựa chọn những thí nghiệm làm cho trẻ xem và sau đó trò chuyện với trẻ: Điều gì xảy ra nếu không có nước? Phải làm những công việc gì để bảo vệ nguồn nước? Chúng ta làm gì để góp phần tiết kiệm nước?... Cũng có thể cho trẻ xem trên máy chiếu những vùng, miền thiếu nước, cây cối thiếu nước, đất đai thiếu nước hoặc nguồn nước bị ô nhiễm hay hình ảnh lãng phí nước sẽ tác động đến tình cảm của trẻ. Khi được xem và tìm hiểu về nước, các bé đã xây dựng được ý thức tiết kiệm và hình thành thói quen tắt nước khi không sử dụng. Hoạt động lao động trong trường mầm non được sử dụng như một phương tiện giáo dục. Có thể hướng dẫn trẻ các hoạt động lao động như lao động tập thể, lao động trực nhật, lao động tự phục vụ. Để cho trẻ hiểu được ý nghĩa của hoạt động này tôi cho trẻ thực hành trải nghiệm để trẻ hiểu và khắc sâu ý nghĩa của từng hành động. Từ đó mỗi bản thân trẻ sẽ có thái độ thân thiện với môi trường, tích cực và có trách nhiệm hơn đối với môi trường sống xung quanh. Ví dụ: Vào chiều thứ 6, tôi thường tổ chức cho trẻ lau dọn và sắp xếp đồ chơi ở các góc gọn gàng. Tôi chia trẻ thành các nhóm nhỏ khác nhau, mỗi nhóm phụ trách một góc trong lớp: Nhóm lau chùi, sắp xếp góc xây dựng, nhóm chăm sóc cây, nhóm lau chùi góc nấu ăn..... tổ chức cho trẻ thực hiện bằng hình thức thi đua, nhóm nào thực hiện sạch, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi gọn gàng thì nhóm đó được gắn hoa lên bảng, trong một tháng cho trẻ nhận xét số lượng hoa trên bảng của các nhóm, nhóm nào được nhiều hoa nhất thì sẽ được thưởng.
  15. 15 Hình ảnh: Trẻ làu chùi, sắp xếp đồ chơi ở các góc Đối với lao động tự phục vụ, trẻ có thể tự làm những công việc như tự rửa tay, kê bàn ăn, tự bê thức ăn, tự cất đồ dùng cá nhân, cất dọn đồ dùng đồ chơi sau khi chơi, giúp cô làm một số việc đơn giản trên lớp phù hợp với trẻ. . .Trò chuyện về một số hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày, những điều nên là của con người để bảo vệ môi trường. Ngoài việc tích hợp, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ vào các hoạt động ngày, qua các hoạt động: ngày lễ, ngày hội, đi dạo đi tham quan tôi luôn luôn giáo dục trẻ không vứt rác ở những nơi công cộng. Khi đến lễ hội không được vứt rác bừa bãi, không bẻ cây, không ngắt hoa và những đồ trang trí trong lễ hội, không phá hoại những đồ chơi ở những nơi công cộng. Giáo dục trẻ biết xây dựng và cùng giữ gìn những cảnh quan đó. Hoạt động lao động trong trường mầm non được sử dụng như một phương tiện giáo dục. Có thể hướng dẫn trẻ các hoạt động lao động như lao động tập thể, lao động trực nhật, lao động tự phục vụ. 4. Truyền tải kiến thức qua câu chuyện, thơ, câu đố, trò chơi; Sử dụng minh họa trực quan Những câu chuyện, bài thơ, câu đố giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm hồn trẻ, sẽ giúp trẻ cảm nhận tốt hơn về cách ứng xử của con người trong thiên nhiên, giữa các đối tượng của thiên nhiên với nhau. Sự đa dạng và các hoạt động của các nhân vật giúp trẻ hứng thú lâu.
  16. 16 Có thể kể những câu chuyện mang đậm tính giáo dục môi trường cho trẻ nghe để hình thành thêm thái độ đúng đắn cho trẻ đối với môi trường xung quanh. Trẻ thích những câu chuyện, bài thơ nói về các con vật nhỏ bé đáng yêu, qua các tác phẩm đó giúp trẻ hiểu hơn về cuộc sống thế giới xung quanh, làm phát triển về ngôn ngữ. Đối với những câu đố sẽ kích thích óc tưởng tượng, suy đoán, phát triển trí thông minh ở trẻ như câu đố về các loại cây, hoa..; một số bài thơ để dạy trẻ như: "Cây thược dược", "Đừng nhé bé ơi", "Tiết kiệm nước", "Lá khóc"; trò chơi: "Nên, không nên", "Ai biết bảo vệ cơ thể", "Hoa màu gì?..; Truyện "Nỗi buồn chim sơn ca, "Khỉ con ăn chuối"... Ngoài ra việc sử dụng minh họa trực quan; phương pháp này cho trẻ quan sát vật thật, tranh vẽ, hoạt động của con người giúp trẻ có thái độ và hành vi phù hợp với môi trường, với các con vật và cây cối. Ví dụ: Cô cho trẻ quan sát tranh vẽ con người với thiên nhiên, con người bảo vệ môi trường, nhận biết môi trường sạch và môi trường bẩn... từ đó trẻ sẽ có thái độ phù hợp và rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân, quan sát trời mưa cô gợi hỏi ích lợi của nước và cho trẻ biết kinh nghiệm bảo vệ sức khỏe khi đi dưới mưa. Cô có thể cho trẻ quan sát vật thật, quan sát biểu hiện của lá cây, cành cây, để nhận biết tại từng thời điểm có gió hay không. Cô cho trẻ xem tranh ảnh âm thanh, băng hình về các loại gió, gió nhẹ, gió mạnh...Cho trẻ quan sát quy trình lớn lên của cây: cây cần ánh sáng, không khí, nước, hạt nảy mầm, cho trẻ quan sát cây lớn lên tươi tốt nhờ đủ các điều kiện, cây không tươi tốt do thiếu một trong các điều kiện trên, trẻ sẽ rút được kinh nghiệm khi chăm sóc cây xanh. 5. Hình thành cho trẻ tinh thần tập thể. - Phân nhóm trẻ, giao nhiệm vụ cho từng nhóm tìm kiếm và sưu tầm các đồ dùng, nguyên liệu để làm các tác phẩm tập thể. Biện pháp này giúp trẻ tăng cường hoạt động và có ý thức làm việc theo nhóm. - Tôi hướng dẫn giáo viên tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có an toàn do cha mẹ học sinh quyên góp để tổ chức cho trẻ thể hiện, rèn luyện các kỹ năng (xé, dán, vo, vẽ ) Ví dụ: Cho trẻ vo giấy làm quả bóng, viên bi để chơi trò chơi “Ném bóng”, “Búng bi”; Dùng giấy gấp thuyền để chơi “Thả thuyền”, cho trẻ gấp máy bay để chơi
  17. 17 “Máy bay” tạo hứng thú cho trẻ khi được khám phá các nguyên vật liệu, được tự tay làm được những món đồ chơi mình thích và trải nghiệm nó trong tự nhiên. Hình ảnh: Cô và trẻ cùng gấp máy bay Đồ dùng do giáo viên tự tạo từ những nguyên vật liệu sẵn có không mất tiền mua như: bìa cát tông, vở hộp sữa, vỏ các loại chai nước, lốp xe...... sử dụng để làm các đồ dùng đồ chơi: Các hộp sữa sau khi rửa sạch có thể dán giấy màu tạo thành đoàn tàu, xe tải, bao ni long có thể cắt hoa trang trí lớp, bìa cứng, hộp giấy trẻ cắt và trang trí thêm làm hộp cắm bút, các chai nước ngọt có thể làm thành các con vật, các con rối... Thậm chí những chiếc lá khô có thể sử dụng để xé dán, cắt ghép thành các con số,cây, hoa... theo ý thích. Hình ảnh cô và trẻ làm hộp cắm bút
  18. 18 Hình ảnh các chai nước ngọt có thể làm thành các con vật 6. Tổ chức hoạt động dự án về bảo vệ môi trường Hoạt động dự án là hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường với một lượng thời gian cụ thể. Hình thức này trẻ vừa chơi mà học, học bằng chơi. Căn cứ vào dự án lớn trong năm về bảo vệ môi trường để chia nhỏ thành các dự án đơn giản, rút gọn, dễ thực hiện. Các dự án được chia theo các nhóm: Tái chế-Tái sử dụng-Giảm ô nhiễm-Bảo vệ môi trường xanh
  19. 19 Ví dụ: Tổ chức hoạt động dự án về bảo vệ môi trường * Hoạt động: Tái chế giấy, bìa carton (áp dụng cho trẻ 5-6 tuổi) - Cách thức triển khai: + Chuẩn bị: Giáo viên phối hợp phụ huynh quyên góp bìa carton và hướng dẫn phụ huynh có thể tái sử dụng ở nhà Bìa carton kích thước tùy nhu cầu sử dụng, giấy, màu nước, bút các loại, đồ dùng trang trí + Cách thực hiện: Giáo viên hỗ trợ và hướng dẫn trẻ cắt, dựng và lắp ghép các mô hình từ bìa carton. Ví dụ: Làm kệ đựng sách, khung ảnh, khay đựng giấy tờ, hộp đựng bút, khung chiếu rối bóng Cô hỗ trợ trẻ sử dụng bìa carton gắn thành Robot, sau đó trang trí tùy theo sở thích của trẻ, trên thân Robot có gắn những thông điệp vô cùng dễ thương: “xin hãy bỏ rác vào đây”, “cho tôi xin hộp giấy và chai lọ” “Cho tôi xin giấy một mặt” Hình ảnh Robot cô và trẻ làm Trẻ rất thích thú mỗi lần thấy Robot, chính vì thể cứ hễ có chai lọ, giấy báo cũ, hộp sữa hay giấy vụn là trẻ cùng nhau mang đến tặng cho Robot. Những thứ các con
  20. 20 mang đến nhìn qua tưởng là rác, sẽ phải bỏ đi, nhưng đó lại là những vật phẩm để cô và trò cùng nhau biến “rác” thành đồ chơi, đồ trang trí cho không gian lớp học. * Hoạt động: Làm tranh, mô hình đồ chơi từ phế liệu (áp dụng cho trẻ 5-6 tuổi) - Cách thức triển khai: + Chuẩn bị: Lên ý tưởng làm tranh và mô hình chơi theo chủ đề, thu gom làm sạch phế liệu + Cách thực hiện: Giáo viên hỏi ý tưởng của trẻ có thể làm gì với những phế liệu đó. Trẻ chia sẻ ý tưởng của mình, giáo viên cũng chuẩn bị trước một số mô hình gợi ý-sau đó cô và trẻ bắt tay và làm những sản phẩm mà trẻ yêu thích. Sản phẩm sẽ được trưng bày, triển lãm và gây quỹ từ thiện vào cuối chủ đề. * Hoạt động: Làm túi giấy sử dụng thay thế túi nilon (áp dụng trẻ 3-6 tuổi) - Chuẩn bị: Bìa lịch, tạp chí, dây trói, ảnh của trẻ, kéo, băng dính 2 mặt, dập lỗ - Cách thực hiện: Giáo viên trao đổi với trẻ cùng viết thư phát động một cuộc thi bảo vệ môi trường gửi tới phụ huynh cùng phối hợp Giáo viên hướng dẫn trẻ làm các túi giấy với kích thước khác nhau (trẻ có thể gấp, cắt ). Ban đầu mỗi bạn có 1 chiếc túi giấy của riêng mình, trên đó có tên và hình của trẻ-có đánh số thứ tự. Cả lớp sử dụng túi đựng những đồ khô và nhẹ, cùng thi đua xem ai sử dụng được túi lâu hơn (thi đua trong 1 tháng). Túi bạn nào rách, hỏng được phép đổi túi mới (trẻ giữ lại ảnh- trên túi mới sẽ đánh số 2). Trong vòng 1 tháng tổng kết lại, bạn nào giữ gìn, sử dụng túi lâu hơn được tuyên dương và khen ngợi trước lớp Ví dụ: Tổ chức hoạt động thí nghiệm về bảo vệ môi trường - Thí nghiệm: Nguyên vật liệu phân hủy và không phân hủy trong môi trường đất, nước + Chuẩn bị: đồ ăn thừa, giấy, sắt, thủy tinh, nilon, nhựa ; dụng cụ làm vườn; một khoảnh đất rộng + Cách thực hiện: Chia đất thành 2 khu (một bên thì thực hiện với những nguyên vật liệu có khả năng phân hủy, một bên là những nguyên vật liệu không có khả năng phân hủy). Cho trẻ thực hành chọn các nguyên vật liệu và quan sát dài ngày + Cách 2: Chôn ngẫu nhiên các chất liệu có gắn thẻ tên, sau thời gian khoảng 1- 2 tháng cho trẻ đào lên quan sát và rút ra kết luận.